Hành trình cách mạng và di sản vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất của lòng yêu nước, một nhà chiến lược cách mạng thiên tài và lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Toàn bộ cuộc đời cùng sự nghiệp cống hiến của Bác gắn liền với những mốc son chói lọi trong lịch sử nước nhà. Người đã dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời đóng góp to lớn vào phong trào đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ. Vào năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã vinh danh Người là "Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam".

Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chặng đường 1890 – 1911: Tuổi trẻ và hoài bão cứu nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học đổi thành Nguyễn Tất Thành và những năm tháng hoạt động cách mạng bí mật mang tên Nguyễn Ái Quốc. Người sinh ngày 19/05/1890 tại quê ngoại – làng Hoàng Trù (tên dân gian là làng Trùa), thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân phụ của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc và thân mẫu là cụ Hoàng Thị Loan.
Lớn lên trong một gia đình Nho học giàu truyền thống yêu nước, từ bé Bác đã tiếp thu tinh thần nhân ái và tình yêu thương quê hương sâu sắc. Trong suốt một thập kỷ sống tại Kinh thành Huế — trung tâm văn hóa, chính trị thời bấy giờ —, Người có cơ hội tiếp xúc với sách báo tiến bộ của Pháp, tiếp cận nền văn hóa mới và chứng kiến các cuộc tranh luận về phong trào chống Pháp của các sĩ phu đương thời.
Trước cảnh đất nước rơi vào tay thực dân, chứng kiến sự đối lập cay đắng giữa kiếp sống khổ cực của người lao động và sự xa hoa của bộ máy cai trị, Bác đã nhìn thấy thất bại của các phong trào yêu nước cũ cùng sự đàn áp dã man các cuộc đấu tranh của nông dân. Người nhận ra rằng cần phải tìm kiếm một con đường giải phóng hoàn toàn mới.
Từ tình yêu gia đình và quê hương, ở người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hình thành một nhân cách lớn, lòng khao khát cứu dân cứu nước và niềm tin vào ý chí tự cường dân tộc. Với nghị lực phi thường, Người quyết tâm ra đi khảo sát phương Tây. Bác từng khẳng định mục đích của mình là sang Pháp và các nước khác để quan sát cách họ thực hiện, sau đó trở về hỗ trợ đồng bào. Đối với Bác, khôi phục độc lập dân tộc là nhiệm vụ tối cao của mọi người Việt Nam yêu nước.
Chặng đường 1911 – 1920: Hành trình tìm đường cứu nước và bước ngoặt tư tưởng
Ngày 05/06/1911, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Nguyễn Tất Thành bước lên tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin rời Tổ quốc. Người vừa bôn ba lao động kiếm sống vừa miệt mài nghiên cứu các lý thuyết cách mạng. Khi trả lời một nhà báo Nga, Người chia sẻ rằng từ năm 13 tuổi đã tò mò về khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" và muốn tìm hiểu bản chất đằng sau những khẩu hiệu đó của văn minh Pháp.
Trực tiếp chứng kiến cuộc sống nghèo khổ của tầng lớp lao động ngay trên đất Pháp, Người nhận ra người dân Pháp tại chính quốc cởi mở và tốt bụng hơn nhiều so với bọn thực dân cai trị ở Đông Dương. Từ 1911 đến 1917, bôn ba qua nhiều châu lục (Á, Âu, Phi, Mỹ), Bác thấu hiểu nỗi đau của các dân tộc bị áp bức và bản chất bóc lột của chủ nghĩa thực dân. Người rút ra kết luận: nhân dân lao động trên toàn thế giới đều là bạn, còn chủ nghĩa đế quốc và thực dân ở đâu cũng là kẻ thù chung. Năm 1917, Bác hòa mình vào phong trào công nhân Pháp để chống lại chủ nghĩa thực dân.
Năm 1919, Người gia nhập Hội những người Việt Nam yêu nước và trở thành đảng viên Đảng Xã hội Pháp. Cùng với các nhà ái quốc Việt Nam, Bác thảo bản Yêu sách của nhân dân An Nam ký tên Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Vécxây để đòi các quyền tự do, dân chủ cơ bản. Đây là tiếng nói chính thức đầu tiên của đại biểu phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Bác nhấn mạnh rằng các dân tộc muốn tự giải phóng thì trước hết phải dựa vào chính sức lực của mình.
Tháng 7/1920, qua tờ báo L'Humanité (Nhân Đạo), Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Tác phẩm này đã soi sáng cho Bác về con đường cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc. Người vô cùng xúc động và reo vui vì đã tìm thấy con đường giải phóng cho đồng bào mình. Bản Luận cương của Lênin đã giúp Nguyễn Ái Quốc xác định rõ hướng đi cho cách mạng Việt Nam. Từ một người yêu nước chân chính, Bác đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt căn bản trong tư tưởng: kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Tàu La-tu-sơ Tơ-rê-vin
Chặng đường 1920 – 1930: Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng
Năm 1922, cùng với các nhà hoạt động cách mạng từ những vùng thuộc địa của Pháp, Bác tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa và xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Ngay số đầu tiên, tờ báo đã xác định nhiệm vụ đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng con người. Khi hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Bác liên tục phản ánh tình cảnh khốn cùng của giai cấp công nông ở thuộc địa và kêu gọi sự giúp đỡ từ phong trào cộng sản quốc tế.
Năm 1925, Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp nhằm vạch trần tội ác của chủ nghĩa đế quốc và khẳng định sức mạnh tiềm tàng của nhân dân thuộc địa. Tại Quảng Châu (Trung Quốc), Bác thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở các lớp đào tạo cán bộ và xuất bản báo Thanh niên – tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Các bài giảng của Người được tổng hợp thành cuốn sách Đường Cách mệnh (1927), đặt nền tảng lý luận và phương pháp luận cho cách mạng Việt Nam.
Thông qua báo chí và thực tiễn hoạt động, Bác tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước trong nước; thúc đẩy việc xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang để đón thời cơ tổng khởi nghĩa. Bác khẳng định rằng sức mạnh quần chúng chỉ có thể phát huy tối đa khi được tổ chức và dẫn dắt bởi một chính đảng tiên phong của giai cấp công nhân.
Đầu năm 1930, Bác chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Bác trực tiếp soạn thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt — trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Văn kiện này vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh thực tế Việt Nam, giải quyết triệt để mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc. Sự ra đời của Đảng dưới sự sáng lập của Nguyễn Ái Quốc đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc về đường lối và tổ chức lãnh đạo, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc.
Chặng đường 1930 – 1945: Lãnh đạo đấu tranh và giành chính quyền (Cách mạng Tháng Tám)
Ngay sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo cao trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Nguyễn Ái Quốc đã tích cực kêu gọi sự hỗ trợ quốc tế cho phong trào trong nước, đồng thời nhắc nhở Đảng phải coi trọng công tác bí mật để bảo vệ lực lượng cán bộ trước sự đàn áp đẫm máu của thực dân.
Tháng 10/1930, Ban Chấp hành Trung ương họp và đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản. Mặc dù có những khác biệt về nhận thức giai cấp ở giai đoạn này, uy tín của Bác trong Đảng vẫn rất cao và Người tiếp tục được cử làm đại biểu dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản.
Từ năm 1934 đến 1938, Bác học tập và làm nghiên cứu sinh lịch sử tại Trường Quốc tế Lênin và Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa ở Liên Xô. Nhận thấy tình hình thế giới biến chuyển dồn dập, Người chủ động gửi thư cho Quốc tế Cộng sản xin được trở về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào.
Ngày 28/01/1941, sau 30 năm bôn ba khắp thế giới, Bác trở về Tổ quốc qua cột mốc 108 tại Pác Bó (Cao Bằng). Tháng 5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8, quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Để tập hợp mọi lực lượng yêu nước, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) vào ngày 19/05/1941. Tiếp đó, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập.
Tháng 8/1945, khi thời cơ chiến lược xuất hiện, Bác ra lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã đồng loạt đứng dậy làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, xóa bỏ ách trị vì của thực dân, phát xít và chế độ phong kiến.
Ngày 02/09/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Tuyên ngôn không chỉ khẳng định quyền con người, quyền dân tộc tự do, độc lập mà còn thể hiện ý chí sắt đá của toàn thể nhân dân quyết tâm bảo vệ nền độc lập vừa giành được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập
Chặng đường 1945 – 1969: Lãnh đạo hai cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngay sau khi thành lập, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với vô vàn khó khăn: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm (quân Pháp ở miền Nam, quân Tưởng ở miền Bắc). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tài tình chèo lái con thuyền cách mạng qua thế "ngàn cân treo sợi tóc". Người chỉ đạo diệt giặc đói, giặc dốt, củng cố tài chính, đồng thời thực hiện sách lược đối ngoại khôn khéo ("dĩ bất biến, ứng vạn biến") để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng.
Tháng 12/1946, khi thực dân Pháp cố tình gây chiến, Bác ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định quyết tâm thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Người đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh.
Năm 1951, Bác cùng Trung ương Đảng tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội thông qua Cương lĩnh mới, tập trung mọi nguồn lực để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm 1954.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam vẫn bị đế quốc Mỹ chia cắt. Bác và Trung ương Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Tại Đại hội Đảng lần thứ III (1960), Bác nhấn mạnh miền Bắc là hậu phương lớn giữ vai trò quyết định nhất, còn miền Nam là tuyến đầu giữ vai trò quyết định trực tiếp.
Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc và leo thang chiến tranh ở miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi lịch sử (1966) với chân lý bất hủ: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Lời kêu gọi của Người đã trở thành động lực tinh thần to lớn, thôi thúc quân và dân hai miền đoàn kết đánh bại mọi chiến lược chiến tranh của kẻ thù.
Ngày 02/09/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, để lại cho toàn Đảng, toàn dân bản Di chúc thiêng liêng. Di chúc là sự kết tinh tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Bác, chứa đựng những dặn dò sâu sắc về công tác xây dựng Đảng, chăm lo đời sống nhân dân và niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Di sản và ý nghĩa lịch sử
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở ra Thời đại Hồ Chí Minh — thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức, phong cách và tư tưởng cho các thế hệ sau học tập.
Việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên của toàn thể cán bộ, đảng viên mà còn là nền tảng tinh thần vững chắc để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.